Quy định pháp lý về chữ ký điện tử trên hợp đồng điện tử

  • 25/04/2022

Về cơ bản, chữ ký điện tử chỉ là một chữ ký ở dạng kỹ thuật số. Nó cho phép người ký phê duyệt, chấp nhận các điều khoản của tài liệu giống như chữ ký giấy. Về bản chất, chữ ký điện tử là quá trình sử dụng máy tính để xác thực người ký và tính vẹn toàn của tài liệu. 

1. Chữ ký điện tử là gì?

Về cơ bản, chữ ký điện tử chỉ là một chữ ký ở dạng kỹ thuật số. Nó cho phép người ký phê duyệt, chấp nhận các điều khoản của tài liệu giống như chữ ký giấy. Về bản chất, chữ ký điện tử là quá trình sử dụng máy tính để xác thực người ký và tính vẹn toàn của tài liệu. 

2. Quy định pháp lý ứng với từng loại chữ ký điện tử hiện nay 

Chữ ký điện tử sử dụng các thuật toán phức tạp. Cơ quan cấp chứng chỉ CA và nhà cung cấp dịch vụ tin cậy TSP là tổ chức xác thực người ký cùng với tính vẹn toàn của tài liệu.

Theo Luật Giao dịch điện tử 2005 và Nghị định 130 sẽ công nhận Chữ ký điện tử là một loại chữ ký nếu đủ các tiêu chí sau: 

  • Nhận dạng: Phương pháp khởi tạo chữ ký cần chỉ ra được chủ thể ký kết, kèm theo đó là sự đồng ý với nội dung tài liệu 
  • Độ tin cậy: Phương pháp khởi tạo phải đáng tin, đảm bảo đáp ứng được mục đích giao kết hợp đồng và gửi đi. Tuy nhiên, CC 2015, Luật Giao dịch điện tử 2005 và Nghị định 130 không cung cấp hướng dẫn cụ thể về cách xác định danh tính chủ thể đăng ký.

3. Quy định cụ thể của từng loại chữ ký điện tử 

Hiện nay, các bên có thể ký hợp đồng bằng chữ ký trực tuyến theo các cách phổ biến sau: chữ ký scan, chữ ký ảnh và chữ ký điện tử.

Chữ ký điện tử được chứng nhận bởi các tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực, và cần đảm bảo các yêu cầu bảo mật sau: phải được khởi tạo trong thời hạn hiệu lực của chứng thư số tương ứng; có thể kiểm tra được bằng số khóa công khai trên chứng thư số hợp lệ đó. 

Chữ ký điện tử được khởi tạo bằng cả khóa riêng và khóa công khai tương ứng được ghi trên chứng thư số, do cơ quan có thẩm quyền cấp. Khóa riêng chỉ nằm dưới sự kiểm soát của chủ thể ký tại thời điểm ký.

Chữ ký quét, chữ ký ảnh không được đề cập đến trong Luật Giao dịch điện tử 2005, Nghị định 130 và Nghị định 52, vậy nên hai dạng chữ ký này không được công nhận là chữ ký điện tử. Hợp đồng điện tử nếu được ký bởi hai dạng chữ ký trên cũng sẽ không được công nhận. Tuy nhiên, mặc dù pháp luật Việt Nam không có tuyên bố về chữ ký quét và chữ ký ảnh, nhưng cũng không có chính sách nào bác bỏ hiệu lực của hợp đồng được ký bởi hai chữ ký đó. Và cũng không có cơ sở pháp lý để kết luận rằng, định nghĩa chữ ký điện tử trong Luật Giao dịch điện tử 2005 không bao gồm chữ ký quét và chữ ký hình ảnh.

TAGS

    Tin liên quan

    Quản lý tình trạng hợp đồng trên FPT.eContract

      Để người sử dụng thực hiện quản lý tất cả các hợp đồng điện tử do mình tạo ra, chức năng “quản lý hợp đồng” sẽ hỗ trợ theo dõi các tình trạng của hợp đồng. Hợp đồng điện tử sẽ thuộc một trong các mục sau trong quản lý hợp đồng tùy theo […]

    Với FPT.eContract, doanh nghiệp tự tin duy trì hoạt động và tăng tốc cạnh tranh

    Hai câu chuyện thực tế ứng dụng ký kết điện tử từ Ford Việt Nam và COFICO đã được chia sẻ tại hội thảo trực tuyến “Ký kết điện tử vượt giãn cách – chuyển đổi phương thức, tăng tốc cạnh tranh” vừa diễn ra do FPT IS tổ chức. Qua đó, doanh nghiệp có […]

    Hợp đồng điện tử và các hình thức giao dịch trực tuyến

    Với sự phát triển của Internet và Thương mại điện tử, Hợp đồng Điện tử đã đạt được những giá trị về phạm vi và tính đa dạng nói riêng. Hợp đồng trực tuyến hay Hợp đồng Điện tử là một thỏa thuận được lập theo mô hình điện tử, được ký kết và thực […]